Hóa chất tẩy trắng nhựa là chủ đề được nhiều xưởng tái chế và cơ sở gia công quan tâm khi gặp tình trạng nhựa tái sinh bị ngả vàng, xỉn màu, bề mặt thiếu độ sáng hoặc màu không đồng đều giữa các mẻ sản xuất. Tuy nhiên trong thực tế, tẩy trắng nhựa không chỉ là thêm một loại hóa chất để nhựa trắng lên. Muốn đạt hiệu quả, bạn cần hiểu đúng mục tiêu là làm sạch và cải thiện màu từ đầu vào hay là tăng cảm giác trắng sáng cho thành phẩm bằng phụ gia, từ đó chọn đúng giải pháp và đúng quy trình.
Trong bài viết này, Nhựa Phú An chia sẻ cách hiểu đúng về hóa chất tẩy trắng nhựa, phân biệt các nhóm giải pháp phổ biến và hướng dẫn lựa chọn theo từng loại vật liệu như PP, PE, PET.
Hóa chất tẩy trắng nhựa là cách gọi chung cho các giải pháp giúp nhựa trông trắng hơn, sáng hơn hoặc sạch hơn về mặt cảm quan trong quá trình sản xuất và tái chế. Điểm dễ gây nhầm lẫn là cùng một cụm từ tẩy trắng nhựa nhưng trong thực tế lại có hai hướng xử lý hoàn toàn khác nhau. Một hướng là làm trắng thành phẩm bằng phụ gia để tăng độ sáng, che ngả vàng. Hướng còn lại là xử lý làm sạch nguyên liệu đầu vào trong tái chế để giảm bẩn, giảm mùi, cải thiện nền màu trước khi tạo hạt.
Nếu xác định sai hướng xử lý, bạn có thể tốn chi phí mà hiệu quả vẫn thấp. Ví dụ nhựa đầu vào bẩn, lẫn keo nhãn, dầu mỡ hoặc tạp màu thì chỉ tăng phụ gia làm trắng cũng khó cho ra nền trắng ổn định. Ngược lại, nếu nguyên liệu đã sạch nhưng vẫn ngả vàng nhẹ do đặc tính vật liệu hoặc do nhiệt gia công, lúc này tối ưu phụ gia làm trắng lại cho hiệu quả rõ rệt.
Nhóm này thường gặp dưới dạng chất làm trắng quang học và masterbatch trắng. Mục tiêu chính là tăng cảm giác trắng sáng, che vàng, nâng độ sáng bề mặt và giúp màu trắng nhìn sạch hơn. Cách này phù hợp khi nhựa nền tương đối sạch, màu ngà nhẹ, hoặc khi bạn cần nâng độ trắng để làm nền cho sản phẩm trắng hoặc làm nền để phối màu.
Nhóm này là các hóa chất dùng trong công đoạn rửa, tẩy bẩn, giảm mùi và hỗ trợ làm sạch flakes trước khi đùn tạo hạt. Mục tiêu là xử lý nguyên nhân gốc khiến nhựa xỉn màu như bẩn bám, keo nhãn, dầu mỡ, tạp chất hữu cơ và một phần tác nhân gây mùi. Khi đầu vào được làm sạch đúng, màu nền sẽ ổn định hơn, phụ gia trắng nếu cần cũng phát huy hiệu quả tốt hơn.
Bạn nên ưu tiên phụ gia làm trắng khi nguyên liệu đã được phân loại khá sạch, ít lẫn tạp màu, bề mặt thành phẩm chỉ bị ngả vàng nhẹ hoặc thiếu độ sáng. Trường hợp này, tối ưu phụ gia sẽ giúp cải thiện nhanh ngoại quan, ổn định màu giữa các mẻ và kiểm soát chi phí dễ hơn.
Bạn nên ưu tiên xử lý từ khâu rửa và phân loại khi nguyên liệu đầu vào có dấu hiệu bẩn rõ, lẫn nhiều nhãn keo, dầu mỡ, có mùi nặng, hoặc màu nền thay đổi thất thường theo từng kiện phế.
Khi nguồn phế không ổn định, việc chỉ dựa vào phụ gia để kéo trắng thường dẫn tới trắng không đều, dễ ám tông, bề mặt vẫn xỉn và tỷ lệ lỗi tăng. Trong trường hợp này, làm sạch đúng quy trình, kiểm soát phân loại và ổn định đầu vào là bước quan trọng nhất để nâng chất lượng hạt nhựa tái sinh.
Để làm trắng nhựa hiệu quả, điều quan trọng nhất là chọn đúng nhóm giải pháp theo đúng mục tiêu. Có nhóm giúp nhựa nhìn trắng sáng hơn nhờ hiệu ứng quang học, có nhóm tạo độ trắng và độ che phủ bằng bột màu trắng, cũng có nhóm là hóa chất dùng trong khâu rửa tẩy để làm sạch và cải thiện nền màu của nhựa tái sinh.
Mỗi nhóm có cơ chế khác nhau, điểm mạnh khác nhau và giới hạn khác nhau. Nếu dùng sai, nhựa có thể trắng không đều, trắng bị ám xanh, bề mặt vẫn xỉn hoặc chi phí tăng mà hiệu quả không tương xứng.
Chất làm trắng quang học là nhóm phụ gia giúp nhựa trông trắng sáng hơn bằng cơ chế tăng độ sáng cảm quan. Nhóm này không tạo trắng theo kiểu phủ màu mà tạo hiệu ứng thị giác, giúp bề mặt nhìn sạch và sáng hơn, đặc biệt hữu ích khi nhựa bị ngả vàng nhẹ do đặc tính vật liệu hoặc do ảnh hưởng nhiệt trong gia công.
Giải pháp này phù hợp khi nhựa nền tương đối sạch và bạn muốn nâng độ sáng cho thành phẩm mà không tăng quá nhiều bột trắng. Tuy nhiên, nếu đầu vào bẩn hoặc lẫn nhiều tạp màu, hiệu ứng thường bị giảm rõ rệt vì bề mặt đã bị xỉn từ gốc. Một điểm cần lưu ý là khi dùng không đúng liều hoặc không đúng điều kiện vận hành, sản phẩm có thể bị cảm giác ám tông, nhìn hơi xanh hoặc lệch sắc độ giữa các mẻ.
Bột trắng và masterbatch trắng là giải pháp tạo trắng theo hướng che phủ và tăng phản xạ ánh sáng, giúp nhựa trắng rõ ràng hơn và ổn định hơn về cảm quan. Đây là nhóm thường được dùng khi bạn cần sản phẩm trắng đục, cần độ phủ tốt, hoặc cần một nền trắng ổn định để làm màu cho các tông sáng.
Masterbatch trắng có lợi thế là dễ dùng, dễ định lượng và độ phân tán ổn hơn so với trộn bột trực tiếp, giúp bề mặt đồng đều và giảm nguy cơ sọc. Với sản phẩm có yêu cầu bề mặt đẹp, chạy sản lượng lớn hoặc cần tái lập màu giữa các lô, masterbatch trắng thường là lựa chọn thực tế hơn.
Tuy vậy, bột trắng và masterbatch trắng cũng không phải là giải pháp thay thế cho việc làm sạch đầu vào. Nếu nhựa tái sinh bị bẩn, có chấm tạp, hoặc lẫn tông màu khác, việc tăng bột trắng có thể làm sản phẩm trắng đục hơn nhưng vẫn xỉn và dễ lộ lỗi bề mặt. Trường hợp này cần xử lý từ đầu vào trước khi tối ưu phụ gia.
Đây là nhóm hóa chất dùng trong quy trình tái chế, mục tiêu chính là làm sạch flakes hoặc mảnh nhựa trước khi đùn tạo hạt. Cơ chế không phải là làm trắng cảm quan ngay lập tức, mà là loại bỏ các nguyên nhân khiến nhựa bị xỉn và bẩn như dầu mỡ, bùn đất, keo nhãn, mực in, tạp chất hữu cơ và một phần tác nhân gây mùi.
Nhóm này thường phát huy hiệu quả rõ với các nguồn phế có dán nhãn, có bẩn bám, hoặc có mùi. Khi rửa đúng quy trình, nền màu của nhựa sẽ sạch và ổn định hơn, nhờ đó nếu cần làm trắng bằng phụ gia ở bước sau thì hiệu quả cũng tốt hơn và dễ kiểm soát hơn.
Trong vận hành thực tế, cách tiếp cận tối ưu thường là kết hợp đúng thứ tự. Đầu vào bẩn thì ưu tiên làm sạch và ổn định nguồn phế trước. Khi nền đã ổn, lúc đó mới dùng phụ gia làm trắng để nâng độ sáng và chốt ngoại quan theo yêu cầu thành phẩm.
Chất làm trắng quang học là nhóm phụ gia giúp nhựa nhìn trắng sáng hơn nhờ hiệu ứng quang học. Thay vì tạo trắng theo kiểu che phủ như bột trắng, nhóm này làm tăng cảm giác sáng sạch trên bề mặt, đặc biệt hữu ích khi nhựa nền bị ngả vàng nhẹ do nhiệt gia công hoặc do đặc tính của nhựa tái sinh đã được làm sạch tương đối tốt.
Nguyên lý dễ hiểu là phụ gia hấp thụ một phần tia cực tím và phát lại ánh sáng ở vùng xanh lam. Khi mắt người nhìn vào bề mặt, phần ánh sáng xanh này giúp cân bằng cảm giác vàng, khiến vật liệu trông trắng hơn và sáng hơn. Vì vậy, nhóm này thường cho hiệu quả rõ trên nền nhựa đã sạch, ít tạp, bề mặt tương đối đồng đều.
Điểm cần nhớ là chất làm trắng quang học không thể biến một nền nhựa bẩn hoặc lẫn tạp màu thành trắng tinh. Nếu đầu vào còn nhiều chấm bẩn, mực in, nhãn keo hoặc lẫn tông xám, hiệu ứng trắng sáng sẽ bị giảm mạnh và sản phẩm vẫn dễ xỉn.
Bạn nên dùng khi mục tiêu là tăng độ sáng cảm quan, giảm ngả vàng nhẹ, làm nền sáng để phối màu tông nhạt, hoặc cần bề mặt nhìn sạch hơn mà không muốn tăng quá nhiều bột trắng.
Bạn không nên kỳ vọng quá nhiều khi nguyên liệu tái sinh chưa ổn định, còn mùi bẩn nặng, còn nhiều tạp màu, hoặc khi sản phẩm yêu cầu trắng đục có độ che phủ cao. Trong các trường hợp này, xử lý đầu vào và dùng masterbatch trắng thường mang lại hiệu quả thực tế hơn.
Khi chọn chất làm trắng quang học, cần ưu tiên sự phù hợp với vật liệu và mức nhiệt gia công. Mỗi công nghệ như ép phun, đùn tấm, thổi màng có dải nhiệt và thời gian lưu khác nhau, nên phụ gia cần đủ bền nhiệt để không bị suy giảm hiệu ứng hoặc gây đổi tông khi chạy lâu.
Ngoài bền nhiệt, khả năng phân tán cũng rất quan trọng. Nếu phụ gia phân tán kém, bề mặt có thể xuất hiện vệt sáng tối, cảm giác trắng không đều hoặc có điểm ám tông. Với dây chuyền cần độ ổn định cao, nhiều xưởng ưu tiên dùng dạng masterbatch làm trắng quang học để dễ định lượng và phân tán ổn hơn so với trộn trực tiếp.
Lỗi phổ biến nhất của nhóm này là trắng bị ám xanh hoặc ám tím, đặc biệt khi dùng quá liều hoặc nền nhựa vốn đã có sắc lạnh. Cách làm an toàn là chạy thử theo từng bước tăng nhỏ, kiểm dưới cùng một điều kiện ánh sáng, rồi chốt công thức ở mức vừa đủ đạt cảm giác trắng sáng mong muốn.
Khi duyệt màu, nên lấy mẫu sau khi máy đã ổn định nhiệt và dòng chảy, tránh đánh giá ở giai đoạn chuyển tiếp đầu mẻ vì lúc này màu thường chưa ổn định. Đồng thời cần ghi lại công thức theo tổng mẻ, nguồn nhựa nền, tỷ lệ nhựa tái sinh, thông số nhiệt, vì chỉ cần thay đổi nguồn nhựa hoặc tăng tỷ lệ tái sinh, cảm giác trắng cũng có thể dịch chuyển.
Trắng không đều giữa các mẻ thường đến từ đầu vào thay đổi hoặc cấp liệu không ổn định. Giải pháp là ổn định nguồn nhựa, chuẩn hóa cân đong, trộn đều trước khi nạp phễu và giữ thông số máy nhất quán.
Trắng bị ám xanh thường do liều cao hoặc nền nhựa quá sáng. Giải pháp là giảm liều, hoặc phối hợp với masterbatch trắng để đạt độ che phủ trước rồi mới dùng làm trắng quang học ở mức thấp để nâng độ sáng.
Bề mặt vẫn xỉn dù đã tăng phụ gia thường do nhựa bẩn từ gốc hoặc có nhiều chấm tạp, mực in. Lúc này cần quay lại khâu rửa tẩy và phân loại đầu vào, vì phụ gia chỉ cải thiện cảm giác trắng, không thể thay thế việc làm sạch.
Nếu chất làm trắng quang học phù hợp với mục tiêu tăng độ sáng cảm quan và che ngả vàng nhẹ, thì bột trắng và masterbatch trắng là nhóm giải pháp tạo trắng theo hướng che phủ rõ ràng hơn. Đây là lựa chọn phổ biến khi bạn cần sản phẩm trắng đục, cần nền trắng ổn định để phối màu tông sáng, hoặc cần che bớt nền nhựa tái sinh có xu hướng ngà và xám nhẹ.
Bột trắng thường được dùng để tăng độ trắng, tăng độ che phủ và làm bề mặt nhìn sạch hơn. Khi phân tán tốt, bề mặt thành phẩm sẽ trắng đều, giảm cảm giác xỉn và tạo nền ổn định cho các màu pastel hoặc màu sáng.
Giải pháp này cho hiệu quả rõ khi nhựa nền đã được làm sạch tương đối và độ tạp màu không quá cao. Với nhựa tái sinh, bột trắng có thể giúp cải thiện ngoại quan, nhưng mức cải thiện sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ sạch của đầu vào. Nếu nhựa lẫn nhiều tạp màu, bột trắng có thể làm trắng đục hơn nhưng vẫn khó đạt trắng đẹp và vẫn dễ lộ lỗi bề mặt.
Masterbatch trắng là dạng hạt màu trắng đã được phân tán sẵn trong nền nhựa mang, giúp ổn định hơn trong vận hành sản xuất. So với trộn bột trắng trực tiếp, masterbatch trắng thường dễ định lượng, giảm bụi, giảm bám thiết bị và cho độ phân tán đồng đều hơn, từ đó hạn chế sọc trắng và đốm trắng trên bề mặt.
Với các dây chuyền đùn tấm, thổi màng hoặc ép phun sản lượng lớn, masterbatch trắng thường là lựa chọn an toàn và dễ tái lập công thức. Khi cần giữ màu ổn định giữa nhiều lô, masterbatch trắng giúp giảm sai số giữa các ca vì chỉ cần cân đúng tỷ lệ là có thể tái lập màu tốt hơn.
Nếu mục tiêu là trắng đục rõ ràng, cần độ che phủ cao và bề mặt nhìn trắng đều, masterbatch trắng thường phù hợp vì hiệu quả ổn định và dễ kiểm soát. Nếu mục tiêu là nền trắng để phối màu, bạn có thể dùng mức trắng vừa đủ để ổn định nền, sau đó mới phối màu theo công thức, tránh lạm dụng trắng làm thay đổi tông màu cuối.
Nếu mục tiêu là trắng sáng tự nhiên, nhiều xưởng thường kết hợp hai hướng. Trước hết dùng masterbatch trắng ở mức đủ để tạo nền, sau đó dùng một lượng nhỏ chất làm trắng quang học để nâng độ sáng cảm quan. Cách kết hợp này giúp tránh tình trạng tăng trắng quá mức dẫn tới chi phí cao nhưng bề mặt vẫn không đạt độ sáng mong muốn.
Lỗi sọc trắng và trắng không đều thường đến từ phân tán kém. Nguyên nhân có thể là trộn chưa đều trước khi nạp phễu, cấp liệu dao động, hoặc điều kiện gia công khiến vật liệu chưa hòa trộn tốt. Giải pháp là chuẩn hóa bước trộn, ưu tiên masterbatch trắng nếu dây chuyền cần độ ổn định cao, đồng thời giữ thông số máy ổn định để hạn chế dao động bề mặt.
Lỗi đốm trắng hoặc chấm li ti có thể đến từ bột bị vón, độ ẩm hoặc tạp bẩn trong hệ cấp liệu. Vì vậy cần bảo quản vật liệu khô, dụng cụ sạch, hạn chế để bột hút ẩm và luôn vệ sinh phễu cấp liệu khi đổi công thức.
Lỗi trắng nhưng bề mặt vẫn xỉn thường không nằm ở việc thiếu trắng mà nằm ở nền nhựa tái sinh còn bẩn hoặc lẫn tạp màu. Trong trường hợp này, tăng bột trắng chỉ làm bề mặt đục hơn, không giải quyết được cảm giác bẩn. Giải pháp đúng là quay lại khâu rửa tẩy và phân loại đầu vào để cải thiện nền trước.
Để tránh tốn chi phí không cần thiết, bạn nên chạy thử theo từng bước nhỏ và chốt mức trắng vừa đủ đạt yêu cầu ngoại quan. Nên thống nhất điều kiện kiểm mẫu, cùng độ dày và cùng ánh sáng so mẫu, vì cảm giác trắng thay đổi rất nhiều theo độ dày sản phẩm và môi trường ánh sáng.
Khi công thức đã đạt, hãy khóa công thức theo kg mẻ và ghi lại nguồn nhựa nền để đảm bảo tái lập ổn định giữa các lô.
Với nhựa tái sinh, màu xỉn và ngả vàng thường không đến từ việc thiếu phụ gia trắng mà đến từ nền nguyên liệu chưa sạch. Nhãn keo, dầu mỡ, bùn đất, mực in và tạp hữu cơ bám trên bề mặt sẽ làm flakes tối màu, khiến hạt nhựa sau tạo hạt nhìn bẩn và khó lên trắng đều.
Vì vậy, nhóm hóa chất xử lý trong tái chế được dùng chủ yếu để làm sạch, giảm mùi và ổn định nền trước, sau đó mới tính tới việc làm trắng bằng phụ gia ở công đoạn gia công.
Rửa nóng kết hợp chất tẩy rửa là hướng xử lý phổ biến để giảm bẩn bám cứng đầu trên flakes, đặc biệt với nguyên liệu có dán nhãn, có dầu mỡ hoặc lẫn tạp hữu cơ. Mục tiêu của bước này là làm bong keo, tách bẩn ra khỏi bề mặt, giảm lượng cặn bám đi vào máy đùn. Khi bề mặt flakes sạch hơn, nền màu cũng sáng hơn và ổn định hơn, đồng thời giảm nguy cơ chấm đen và đốm bẩn trên thành phẩm.
Rửa kiềm thường được nhắc tới trong các dây chuyền cần khả năng làm sạch mạnh hơn, nhất là khi đầu vào có nhiều keo nhãn hoặc tạp bẩn khó trôi. Tuy nhiên, hiệu quả chỉ bền vững khi đi kèm phân loại đầu vào tốt và quy trình tráng rửa đủ kỹ. Nếu rửa tốt nhưng tráng rửa không tốt, tồn dư có thể ảnh hưởng đến mùi, bề mặt hoặc độ ổn định khi gia công.
Trong thực tế vận hành, hiệu quả làm sạch không phụ thuộc riêng hóa chất mà phụ thuộc sự phối hợp giữa phân loại, ma sát cơ học, thời gian tiếp xúc, tráng rửa và sấy. Nhiều xưởng nâng chất lượng bằng cách tối ưu đồng bộ các công đoạn thay vì chỉ tăng hóa chất.
Một số dây chuyền sử dụng chất oxy hóa nhẹ như một giải pháp hỗ trợ nhằm cải thiện cảm quan màu và giảm mùi, thường áp dụng khi flakes đã được làm sạch cơ bản nhưng vẫn còn xỉn hoặc còn mùi bám nhẹ. Cách tiếp cận này phù hợp hơn với mục tiêu nâng nền sau làm sạch, chứ không phải để biến nguồn phế bẩn thành trắng đẹp.
Điểm quan trọng là nhóm này cần kiểm soát an toàn nghiêm ngặt theo SDS và quy trình vận hành của nhà cung cấp hóa chất. Xưởng không nên tự pha trộn tùy ý hoặc thay đổi quy trình khi chưa đánh giá rủi ro, vì đây là nhóm có thể ảnh hưởng đến an toàn lao động, chất lượng nước thải và độ ổn định vật liệu nếu dùng sai cách.
Có những trường hợp dùng hóa chất nhiều vẫn không cải thiện được màu theo kỳ vọng. Thường nguyên nhân nằm ở đầu vào lẫn tạp màu quá cao, lẫn nhựa khác loại, lẫn mực in đậm, hoặc lẫn vật liệu đã lão hóa nặng. Khi nền đã xám hoặc bẩn từ gốc, mọi nỗ lực kéo trắng ở công đoạn sau chỉ cho hiệu quả giới hạn và chi phí sẽ tăng rất nhanh.
Dấu hiệu nhận biết là flakes nhìn không đồng đều màu, có nhiều điểm đen, nhiều mảng tối, mùi bám nặng, hoặc mỗi kiện phế cho ra một nền màu khác nhau. Lúc này, giải pháp hiệu quả nhất thường là siết lại phân loại đầu vào, tách nhựa theo chủng loại, giảm tạp, kiểm soát nguồn phế ổn định và tối ưu rửa cơ học. Khi nền đã ổn, việc dùng phụ gia trắng và làm trắng quang học mới dễ kiểm soát và cho màu trắng đều hơn giữa các mẻ.
Cùng là làm trắng nhưng mỗi loại nhựa lại có nền màu, đặc tính gia công và giới hạn cải thiện khác nhau. Nếu chọn sai hướng, bạn dễ rơi vào tình trạng tăng phụ gia mà vẫn xỉn, hoặc trắng được nhưng bị ám tông và không ổn định giữa các mẻ. Dưới đây là cách chọn theo hướng thực tế, dựa trên hai câu hỏi quan trọng nhất là bạn đang làm vật liệu gì và bạn muốn trắng để làm gì.
Với PP và PE, nền nhựa tái sinh thường bị xỉn do bẩn bám và tạp màu từ đầu vào. Nếu mục tiêu là cải thiện nền, bạn nên ưu tiên làm sạch và ổn định nguồn phế trước, sau đó mới dùng masterbatch trắng để nâng độ che phủ. Chất làm trắng quang học có thể dùng để tăng độ sáng cảm quan nhưng chỉ nên xem là bước tinh chỉnh khi nền đã sạch và tương đối sáng.
Với PET, màu xỉn thường liên quan đến mức độ sạch của flakes và chất lượng quy trình rửa, tráng rửa, sấy. Để nâng nền màu, ưu tiên quan trọng nhất vẫn là làm sạch và giảm bẩn bám, vì PET bẩn sẽ cho hạt tái sinh tối và khó kéo trắng bằng phụ gia. Sau khi nền ổn, tùy mục tiêu sản phẩm, bạn có thể dùng masterbatch trắng hoặc giải pháp quang học để cải thiện cảm quan, nhưng cần kiểm soát chặt để tránh sai lệch màu khi chạy nhiệt cao.
Với PVC, cách tiếp cận thường là chọn đúng compound theo ứng dụng và kiểm soát hệ phụ gia. PVC nhạy với nhiệt nên nếu gia công không tối ưu, vật liệu dễ ngả màu. Với mục tiêu trắng đẹp và ổn định, masterbatch trắng hoặc compound thiết kế sẵn thường an toàn hơn so với tự phối bột trắng thiếu kinh nghiệm. Chất làm trắng quang học có thể áp dụng nhưng cần chọn đúng loại phù hợp nhiệt gia công và kiểm soát liều để tránh ám tông.
Nếu bạn cần trắng để làm nền nhuộm màu, mục tiêu chính là nền phải ổn định và ít bị bẩn màu để phối ra tông sáng chuẩn. Trường hợp này, bạn thường không cần tăng trắng quá cao, chỉ cần nền đủ sáng và đồng đều để màu nhuộm lên đúng tông và ổn định giữa các lô. Cách làm hiệu quả là dùng masterbatch trắng ở mức vừa đủ, ưu tiên ổn định nền, sau đó mới phối màu theo công thức.
Nếu bạn cần trắng cho thành phẩm trắng, bạn cần quan tâm nhiều hơn tới độ che phủ, cảm giác trắng sạch và độ đồng đều bề mặt. Lúc này masterbatch trắng thường là giải pháp chính. Chất làm trắng quang học có thể dùng ở mức thấp để nâng độ sáng cảm quan sau khi đã có nền trắng đủ che phủ, giúp bề mặt nhìn sáng hơn mà không phải tăng quá nhiều trắng làm chi phí đội lên.
Với hàng đục, mục tiêu là độ che phủ và cảm giác trắng đều. Masterbatch trắng thường phù hợp vì dễ tạo nền đục và ổn định cảm quan. Chất làm trắng quang học chỉ nên dùng như bước tinh chỉnh để tăng độ sáng nếu cần.
Với hàng trong, làm trắng theo kiểu che phủ sẽ làm mất độ trong, vì vậy bạn cần xác định rõ có chấp nhận giảm độ trong hay không. Nếu vẫn muốn giữ độ trong tương đối mà chỉ cần giảm ngả vàng nhẹ, chất làm trắng quang học thường phù hợp hơn vì cải thiện cảm giác trắng sáng mà không tạo lớp che phủ mạnh như trắng đục. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào độ sạch của nền và sự ổn định trong gia công.
Tẩy trắng nhựa muốn hiệu quả và ổn định không nằm ở việc dùng thật nhiều hóa chất hay phụ gia, mà nằm ở việc chọn đúng giải pháp theo đúng mục tiêu. Nếu nền nhựa tái sinh còn bẩn và lẫn tạp, ưu tiên quan trọng nhất là phân loại và làm sạch đầu vào để ổn định nền màu.
Khi nền đã sạch, bạn mới tối ưu bước làm trắng bằng masterbatch trắng để tăng độ che phủ, hoặc dùng làm trắng quang học để nâng độ sáng cảm quan và che ngả vàng nhẹ. Làm đúng thứ tự sẽ giúp trắng đều hơn, hạn chế trắng bị ám xanh, giảm sọc màu, bề mặt bớt xỉn và tối ưu chi phí vận hành.
Nếu bạn đang cần tư vấn lựa chọn giải pháp vật liệu nhựa theo mục tiêu sản xuất, hoặc cần nguồn vật liệu nhựa công nghiệp ổn định để làm sản phẩm tấm, khay, thùng và các ứng dụng đóng gói kỹ thuật, Nhựa Phú An sẵn sàng hỗ trợ. Bạn có thể tham khảo các dòng sản phẩm tấm nhựa PP Danpla và giải pháp theo yêu cầu tại website Nhựa Phú An để được tư vấn hướng chọn phù hợp, đảm bảo hiệu quả sử dụng và tính ổn định khi sản xuất.
Thay vì cố gắng tạo ra hình ảnh thùng Danpla hoàn hảo, Nhựa Phú An hướng đến những sản phẩm gọn gàng, dùng được tốt trong điều kiện vận hành thực tế: mang vác nhiều lần, xếp chồng, kéo đẩy, vệ sinh… mà không bị xuống cấp quá nhanh.
Nhựa Phú An - Nhà cung cấp tấm nhựa, thùng nhựa Danpla uy tín tại Việt Nam
Hotline: 1800 1146
Website: https://nhuaphuan.com
Email: kinhdoanh@nhuaphuan.com.vn
Nhựa Phú An hiểu vật liệu, hiểu sản xuất, hiểu nhu cầu của bạn.